NGUYỄN NGỌC HOA: ĐẬP ĐEO MẠN THUYỀN
Đập Đeo Mạn
Thuyền
Truyện ngắn của Nguyễn Ngọc Hoa
Mùa thu năm ngoái, chúng tôi mua nhà và dọn vào chỗ ở mới. Ngôi nhà cổ hai tầng (tính thêm tầng hầm là ba) nằm ở góc đường thật quá lớn cho vợ chồng tôi và bé Mạc. Trên lầu có bốn phòng ngủ: hai phòng nhỏ nhất tôi và Quỳnh Châu dùng làm phòng học và làm việc, nhưng đủ chỗ kê thêm cái giường đơn, một phòng dành cho Mạc, và phòng ngủ chính của vợ chồng tôi. Tầng trệt gồm phòng khách chiếm nửa diện tích căn nhà, phòng ăn trang trọng để thết đãi khách khứa, và nhà bếp để nấu ăn và ăn cơm thường ngày. Tầng hầm gồm family room là nơi để gia đình sum họp và giải trí và hai phòng nhỏ làm kho chứa đồ.
Nhà lớn thì mất công thu dọn và chăm sóc, nhưng chúng
tôi tha hồ mời và tiếp đãi bạn bè và người thân ở xa đến thăm mà không phải rào
đón, “Chật bụng chớ chật chi nhà.”
Đầu mùa hè năm nay, anh Leo người Mỹ dạy ở Đại học Hokkaido tại Sapporo bên
Nhật hoan hỉ nhận lời sang thăm tôi, trên đường đi nghỉ hè về thăm gia đình ở bắc
California. Sapporo là thủ phủ và thành
phố lớn nhất của đảo Hokkaido phía bắc nước Nhật.
Tôi quen anh Leo hơn 17 năm trước, ngày học đệ nhị (lớp 11) trường trung học Ban Mê Thuột và học Anh văn với thầy Can; thầy vừa tốt nghiệp Đại học Sư phạm Sài gòn và dạy năm đầu tiên. Trước khi vào đại học, thầy làm thông dịch viên cho văn phòng đoàn Thanh niên Chí nguyện Quốc tế (gọi tắt là IVS) tại Ban Mê Thuột. IVS là cơ quan tư bất vụ lợi do ba giáo phái Tin Lành Hoa kỳ Mennonite, Brethren, và Quaker lập ra để gửi thanh niên tình nguyện sang các nước kém phát triển giúp đỡ dân chúng trong việc chăn nuôi, trồng trọt, vệ sinh, giáo dục, v.v. Thầy Can thuê nhà ở chung với nhân viên IVS và thường đưa họ tới sinh hoạt chung với học sinh trong các hoạt động hiệu đoàn. Khi IVS cần một học sinh giỏi Anh văn để dạy Việt ngữ, thầy đề cử tôi, và anh Leon là “học trò” của tôi...
Anh Leon lớn hơn tôi bảy tuổi, người cao
nghệu, dễ đến một thước chín, giọng nói trầm và ấm, và vẻ mặt hiền hậu. Học tiếng Việt, anh kiên nhẫn và cố gắng lập
đi lập lại những chữ hay câu khó khăn nhất.
Ngoài giờ học, chúng tôi là đôi bạn thân, anh xem tôi như em và cuối tuần
lấy xe Land Rover để mui trần chở tôi và các bạn đi chơi khắp núi rừng Ban Mê
Thuột. Anh giỏi tiếng Pháp và rất thán
phục khi biết vì thiếu tài liệu, tôi dùng sách học Việt ngữ của học sinh tiểu học
để soạn bài dạy. IVS có ngân quỹ trả tiền
“thầy,” nhưng mẹ không cho nhận,
“Họ qua đây
giúp đồng bào mình, mặt mũi mô mà ngửa tay lấy tiền?”
Giữa năm đệ nhất (lớp 12) tôi buồn bã chia tay với anh
Leon khi anh đổi về Sài gòn làm phụ tá giám đốc IVS tại Việt nam, tức là “phó đảng
trưởng” cho “đảng trưởng” là anh Don; trong nội bộ IVS, nhân viên gọi người đứng
đầu như thế. Đậu Tú tài II và trúng tuyển
vào trường Điện, tôi về Sài gòn học và háo hức gặp lại anh Leo. Nhưng chỉ tuần sau đó anh mãn nhiệm kỳ về Mỹ
đi học lại tại Đại học California Berkeley ở bắc California. Theo lời mời của anh, thay vì về nhà trọ là
nơi mẹ đã gửi gắm, tôi kêu tắc-xi về thẳng trụ sở và nhà ngủ tập thể IVS trên
đường Lê văn Duyệt gần Ngã Tư Bảy Hiền.
Tôi tạm trú ở nhà ngủ IVS đến ngày anh rời Sài gòn, và nhờ vậy quen với anh
Don. Anh từng làm việc ở Ban Mê Thuột với
thầy Can, rất giỏi tiếng Việt, và đọc Truyện Kiều mà không cần tra cứu
sách vở. Từ đó, tôi được mời tham dự những
buổi sinh hoạt hàng tháng và lễ lạt quan trọng của IVS và được các bạn IVS yêu mến.
Sau khi đậu tiến sĩ ở Berkeley, anh Leon sang Sapporo dạy
học và trở lại Sài gòn vài lần thăm tôi.
Tháng Sáu năm 1975, khi tôi bỏ nước ra đi, anh bay về Mỹ, thuê xe lái vào
trại tỵ nạn Trại Pendleton, và nằm trong lều vải nhà binh nghe tôi kể chuyện
những ngày cuối cùng đau thương của Sài gòn và cuộc hành trình xuyên
qua Thái bình dương gian khổ của tôi. Sáu năm qua, mỗi dịp lễ lạt chính trong năm
tôi đều nhận được quà gửi từ Sapporo của bạn anh là một bà Tomoko Maruya với lời
chúc thiết tha trìu mến, nhưng không cho biết gì về bà.
* * *
Tôi xin nghỉ phép một tuần lái xe đưa anh Leo đi thăm
vùng Trung-Tây tôi ở và đồng thời đưa Quỳnh Châu và Mạc đi nghỉ hè. Khi đi qua các thành phố nhỏ chỉ có vài trăm dân,
anh thảng thốt kêu lên, “Oh, small town America!” (Ô, xứ Mỹ tỉnh nhỏ!). Chúng tôi đi thăm khu rừng núi Black Hills (Đồi
Đen) là rặng núi chạy dọc theo mé tây tiểu bang South Dakota và kéo dài xuống tận
tiểu bang Wyoming. Tên gọi “Đồi Đen” dịch
từ tiếng thổ dân Da đỏ; họ gọi như thế vì nhìn từ xa, các ngọn núi gồm toàn cây
thường xanh có màu đen sẫm. Địa điểm nổi
tiếng nhất trong vùng là núi Rushmore trên đỉnh có mặt bốn tổng thống Hoa kỳ George
Washington, Thomas Jefferson, Theodore Roosevelt, và Abraham Lincoln tạc vào
vách đá hoa cương.
Sau chuyến đi Black Hills, chúng tôi chuyển hướng đi về phía bắc thăm vườn Hòa bình Quốc tế nằm hàng hai trên biên giới Hoa kỳ - Gia Nã Đại. Vườn hoa rộng lớn này được lập ra năm 1932 để biểu hiệu cho sự hòa hiếu vĩnh cửu của hai quốc gia với tấm bia đá ghi “tình hữu nghị của chúng ta sẽ bền vững đời đời.” Giữa vườn là đường biên giới thẳng tắp chạy đến tận chân trời. Buổi chiều, trước khi ra về, chúng tôi bỗng nghe một nhóm du khách thăm vườn nói tiếng Việt ồn ào với nhau. Hỏi ra họ là hai gia đình Việt nam tỵ nạn định cư ở Brandon, thành phố lớn thứ nhì của tỉnh Manitoba, Gia Nã Đại, cách biên giới chừng 100 cây số. Họ mừng rỡ khẩn khoản mời chúng tôi về Brandon khoản đãi. Không ngần ngừ, chúng tôi nhận lời và lái xe qua biên giới tới Brandon, thuê phòng khách sạn ngủ lại đêm, và đến nhà họ ăn nhậu đến khuya. Đây là lần đầu tiên tôi xuất ngoại từ khi đặt chân tới Hoa kỳ. Anh Leo thì thích thú,
“Tôi chưa
bao giờ ngừng ngạc nhiên về lòng hiếu khách tuyệt vời của người Việt.”
Sau những năm xa cách, tôi và anh Leo có thật
nhiều chuyện kể cho nhau nghe, và Mạc là người mê nghe chuyện nhất. Đêm đầu tiên, tôi và anh thức khuya chuyện
trò, chú bé lên năm kéo ghế ngồi một bên im lặng theo dõi đến sau nửa đêm, tôi
phải ôm bé vào lòng giục giã,
“Thôi Mạc đi ngủ,
mai nghe tiếp.”
Tối hôm sau, cơm nước và dọn dẹp xong,
chúng tôi chưa kịp vào phòng khách thì đã thấy Mạc bắc ghế ngồi chờ sẵn. Tôi ngạc nhiên,
“Cu
Mạc làm gì đó?”
“Nghe chuyện
tiếp . . .” bé trả lời tỉnh bơ.
Nhắc lại anh Don cựu giám đốc IVS tại Việt
nam, anh Leo nói,
“Don
là người hiền lành và khắc khổ, tính khí hiền hòa, và hầu như không biết nổi giận. Trước khi đến North Dakota, tôi bay sang Gia
Nã Đại du lịch, đi thăm thác Niagara, và nhân tiện qua bên kia sông Niagara là
thành phố Niagara Falls thuộc tiểu bang New York thăm Don.”
“Anh
biết không, có một thời tôi làm việc cho Don,” tôi nói thêm.
“À,
Don nhờ tôi chuyển món tiền này cho em,” như vừa nhớ ra, anh Leo lấy ra tờ giấy
bạc một trăm đô la đưa cho tôi.
“Tôi nhớ ra
rồi,” tôi vỗ tay vào đùi, chuyện xưa trở lại trong trí.
Cuối tuần lễ Độc lập Hoa kỳ năm 1967, anh Don và ba
nhân vật đầu não IVS từ chức vì cho rằng IVS không thể tiếp tục giúp dân nghèo
trong lúc chiến tranh tiếp diễn. IVS tan
tác sau Tết Mậu Thân (1968), khi Việt Cộng bắt cóc và xử tử một nhân viên ở
Long Xuyên, và tháng Chín năm 1971, hoàn toàn chấm dứt sứ mạng. Giữa năm 1968, anh Don trở lại Việt nam dưới
sự tài trợ của Hội đồng Giáo hội Thế giới để nghiên cứu việc tái thiết Việt nam
thời hậu chiến, khi hòa bình tái lập.
Tuy nhiên, anh dành phần lớn thì giờ để hành nghề ký giả tự do, khám phá
ra “chuồng cọp” giam giữ tù nhân Cộng sản trong đề lao Côn Sơn, và trở thành
cái gai trong mắt chính phủ Việt nam Cộng hòa vì gửi đi các bài báo đả kích chính
phủ của phe đối lập.
Thời gian này, tôi cãi lời cha và dẫn em kế là thằng
Sang đi bụi đời. Giữa mùa hè, trường
tư đóng cửa, tư gia không cần người dạy kèm, anh em tôi lâm vào cảnh khốn khó,
và tôi muối mặt đến gặp anh Don xin việc.
Anh ở apartment trên tầng bảy là tầng cao nhất của một bin-đinh
trên đường Pasteur gần góc đại lộ Lê Lợi, ba tầng dưới cùng là nhà thổ hạng
sang cung cấp dịch vụ cho nhân viên dân sự và sĩ quan Mỹ. Anh nhận tôi làm việc và giao nhiệm vụ dịch các
bài báo đối lập ra Anh ngữ. Một đêm cuối
tháng làm việc thứ hai của tôi, cảnh sát bố ráp bin-đinh, một cô gái
giang hồ hối hả chạy lên báo tin cảnh sát đang lùng bắt tôi, tôi hoảng hốt leo vào
chiếc thang sắt dùng làm lối thoát khi có hỏa hoạn, bước lần từng nấc xuống đất,
và nhanh chân chạy thoát. Tôi thất kinh không
dám gặp anh Don lấy tiền lương tuần lễ cuối cùng. Số tiền $100 anh Leo đưa chắc hẳn là khoản tiền
lương anh Don còn thiếu tôi.
Anh Leo tiếp tục kể về người sếp cũ,
“Don bị trục xuất
khỏi Việt nam tháng Tư năm 1971, và suốt bốn năm tiếp theo, dấn thân hoạt động
phản chiến và vận động Quốc hội Hoa kỳ cắt đứt quân viện cho Việt nam để chấm dứt
chiến tranh.”
“Làm
việc đó, Don đã đóng góp một phần lớn khiến cho miền Nam thất thủ. Nhưng tôi biết rõ Don nên không oán ghét anh ấy
như những người Việt tỵ nạn khác. Bây giờ
Don ra sao?” tôi không khỏi bồi hồi.
“Sau
đó, Don lên New York làm việc và gặp người bạn lòng là Mark . . .”
“Anh
muốn nói Mark – tên đàn ông?” tôi ngạc nhiên ngắt lời, “Don là người tình dục đồng
giới hay sao?”
“Đúng vậy! Hai người sống chung và đầu năm nay dọn lên
Niagara Falls. Don dạy bán thời gian, và
Mark là giáo sư chính thức ở Đại học Cộng đồng Niagara Falls. Một cuộc sống lứa đôi bất chấp thành kiến xã
hội!”
Đêm cuối cùng tôi mới có dịp hỏi anh Leo về
bà Tomoko Maruya. Hôm nay, sau các chuyến
đi xa, Mạc mệt đừ và đi ngủ sớm nên anh tâm sự cởi mở hơn,
“Tomoko
lớn em một hay hai tuổi và cũng dạy Đại học Hokkaido như tôi,” anh vờ như không
nghe tiếng cười hì nhẹ của tôi, “Nàng góa chồng và cuộc đời và gia đình kết chặt
với ngôi trường cổ kính đó. Cha nàng và
cha chồng là hai giáo sư trụ cột giảng dạy lâu năm, và người chồng yểu mệnh
cũng từng là giáo sư của trường.”
“Qua
thư Tomoko, tôi thấy rõ chị yêu anh vô cùng. Đợi gì mà không tiến tới, anh có còn trẻ nữa
đâu?”
“Xã hội Nhật
thủ cựu khư khư tuân theo truyền thống cổ xưa và không chấp nhận hôn nhân với
người ngoại quốc. Họ tự hào là dân Nippon
là xứ mặt trời mọc và bị ám ảnh với ước mong đánh bại bọn Yankees là người
Mỹ về mọi mặt. Một anh chàng Mỹ rất khó
lòng đàng hoàng kết hôn với một cô gái Nhật.”
Tôi không tin anh Leo, với tinh thần tự chủ
của người Mỹ, lại thúc thủ chịu thua,
“Không
có cách nào để anh chị kết hợp với nhau hay sao?”
“Tomoko
chỉ tái giá khi có sự chấp thuận của cả cha nàng lẫn cha chồng. Tôi nhờ ông khoa trưởng đại diện gia đình tôi
đến cầu hôn. Nể ông khoa trưởng vừa là bạn
thân vừa là thượng cấp, hai ông cha miễn cưỡng đồng ý cuộc hôn nhân nhưng với
điều kiện Tomoko phải từ chức giáo sư của trường, một nước cờ cốt làm tổn
thương danh dự nàng. Cứng rắn hơn, họ sẽ
từ Tomoko và vĩnh viễn không nhìn nhận nàng.”
“Họ
dứt khoát như thế thì càng dễ! Anh và
Tomoko chỉ cần lo cho hạnh phúc riêng mình.”
“Tomoko cũng nghĩ
như thế! Tiện đây tôi báo cho em biết, khi
tôi trở lại Nhật sau chuyến đi này, ông khoa trưởng sẽ đứng ra chủ hôn cho tôi và
Tomoko, và chúng tôi sẽ về hưu dọn sang Costa Rica sinh sống,” đôi mắt anh Leo
sáng lên; Cộng hòa Costa Rica ở Trung Mỹ là một nước nhỏ nhưng tương đối mở
mang, dân chúng có học thức, và nền dân chủ ổn định.
Bắt tay chúc mừng anh Leo, “Congratulations!”
tôi cảm thấy chị Tomoko giống như người vợ Quảng Bình nhẫn nhục thương chồng trong
bài ca dao,
Đi mô
cho thiếp theo cùng,
Đói no thiếp chịu, lạnh lùng thiếp cam.
Lên non thiếp cũng lên theo,
Xuống thuyền thiếp
cũng đập đeo (đeo vào)
mạn thuyền.
Nguyễn Ngọc Hoa
Ngày 16 tháng Ba, 2022
***
Truyện
ngắn của Nguyễn Ngọc Hoa
Cả tháng nay, tôi và Quỳnh Châu chuẩn bị
đón tiếp khách quý là Cao anh nàng và Monique, cô vợ người Pháp của anh. Hồi đó Cao học kỹ sư công nghệ, học chung các
lớp khoa học cơ bản với tôi, và chơi với tôi khá thân. Tốt nghiệp, Cao đi du học ở Đức rồi sang Pháp
làm việc và sống với gia đình bên ngoại.
Ba năm trước, Quỳnh Châu cùng bé Mạc đi Pháp và đã gặp Cao, lúc đó anh
còn độc thân. Trong lúc Quỳnh Châu háo hức
gặp anh và chị dâu, tôi chợt nghĩ tới một câu hỏi cắc cớ,
“Em
ơi, người như Monique là gì của anh?”
“Monique
là vợ anh Cao, anh Cao là anh vợ của anh,” nàng háy một cái thật dài, “Vậy mà
cũng hỏi!”
“Này
nhé, hai người đàn ông lấy hai chị em ruột thì gọi là ‘anh em cột chèo’ hay
‘anh em bạn rể.’ Hai người đàn bà lấy
hai anh em ruột thì gọi là ‘chị em bạn dâu.’
Nhưng bây giờ, Monique và anh lấy hai anh em khác phái thì gọi là chị em
gì?” tôi cười nửa miệng.
“Cái đó em
chịu thua, để hôm nào hỏi mẹ coi.”
Nàng tới hỏi mẹ, mẹ nghĩ không ra nhưng lại
kể chuyện xưa,
“Từ
nhỏ đến chừ, thằng nớ có cái tật đưa ra câu hỏi không ai trả lời
được như rứa! Ngoài làng quê Quảng
Bình bị anh hắn là thằng Quang cú đầu mãi mà không chừa.”
“Thật
vậy sao mệ? Ba con bị bác Quang
cú đầu. Ha ha . . .” Mạc thừa dịp hỏi tới;
con tôi lên năm và mê nghe chuyện xưa của người lớn.
“Hồi
cha mi bằng tuổi mi,” mẹ vuốt tóc Mạc, “Hắn mê đọc sách
quên ăn quên ngủ nên bị thằng Quang kêu là con mọt sách. Chuyên môn hỏi những câu như ‘Khi mô hết
đánh nhau?’ và ‘Phật với Chúa ai giỏi hơn?’ và hỏi gặng đến khi lãnh cái cú đầu,
‘Đồ lì lợm như trâu!’ mới thôi.”
“Ba con bị
kêu là con trâu hả mệ?” thằng bé cười hăng hắc.
Nói chuyện cậu mợ đến thăm, Mạc níu tay Quỳnh
Châu,
“Mợ
Monique biết nói tiếng Anh không? Làm
sao con nói chuyện với mợ?”
“Con đừng
lo. Mợ học giỏi, giỏi hơn ba nữa, và giỏi
tiếng Anh lắm,” vợ tôi trấn an con.
Monique đậu tiến sĩ đệ tam cấp kinh tế ở Đại học Paris,
trước năm 1970 gọi là Sorbonne. Chị nói tiếng
Anh với giọng Pháp và không phát âm được âm “h” trong các chữ như “(h)ome” và “(h)usband”
nên tôi phải hỏi đi hỏi lại và đoán chừng mới hiểu. Ngược lại, từ ngày tốt nghiệp trường kỹ sư, tôi
không có dịp nói tiếng Pháp nên muốn nói phải dịch ra trong đầu trước, nếu
không sẽ bật ra nói tiếng Anh. Trong những
lần đi shopping với nhau trong thương xá, chị và tôi khiến người Mỹ nào
đi qua cũng đảo tròn mắt ngạc nhiên: Chị
nói tiếng Pháp, tôi nói tiếng Anh, và chúng tôi hiểu nhau hoàn toàn.
Mấy ngày cuối cùng của vợ chồng Cao ở đây nhằm cuối tuần
trước lễ Chiến sĩ Trận vong, ngày thứ Hai cuối cùng của tháng Năm, theo truyền
thống là lúc các hoạt động mùa hè bắt đầu.
Quỳnh Châu sắp đặt chúng tôi đi cắm trại ngoài hồ với gia đình một người
bạn Mỹ để, “Anh Cao và Monique nếm mùi thôn dã của dân North Dakota tụi tui,”
nàng nói với một thoáng tự hào. Chúng
tôi mang thức ăn nướng ngoài trời, cần câu và mồi câu cá, xuồng nhôm để chèo đi
chơi trên hồ, và lều để cắm trại ngủ đêm.
Sáng thứ Bảy, bưu tá đến phát thư khi tôi bận
rộn mang các thứ cần dùng chất lên xe. Thấy
trong xấp thư có thư thằng Lộc, người bạn thân đồng khóa kỹ sư điện đang ở Sài
gòn và làm việc ở Công ty Điện lực Miền Nam (“CTĐLMN”), tôi lấy nhét vào ba-lô
đựng bộ quần áo phòng hờ cho Mạc và các đồ dùng cá nhân. Tới hồ, sau khi dựng lều, nướng thức ăn, và
ăn uống, mọi người rủ nhau đi câu, bơi xuồng, hay dạo chơi quanh hồ, tôi tình
nguyện ở lại “giữ thành” và dọn dẹp rồi mở thư thằng Lộc ra xem,
Báo cho mày biết một
tin thật buồn. Vợ chồng thằng Song và bốn
đứa con vượt biên bị bại lộ, ghe bị công an biên phòng đuổi theo bắt được. Ngự Thanh vợ nó và hai bé gái út chết ngộp dưới
khoang ghe. Nó đang bị giam ở Cà Mau.
Tôi ôm mặt khóc ròng. Mười sáu năm trước, ngày đầu tiên bước vào giảng
đường đại học, mặt mày ngơ ngáo, tôi bắt gặp nụ cười thân thiện của thằng
Song. Nó cao hơn tôi nửa cái đầu, thân
hình chắc chắn, và với giọng Huế hơi lai tiếng Bắc làm quen với tôi,
“Tao là Song
ở Pleiku, tao thi Tú tài I và Tú tài II ở Nha Trang nên biết tiếng mày từ lâu.”
Cả hai kỳ thi đó, tôi đậu thủ khoa hội đồng
thi. Vậy là hai thằng quen nhau. Năm đầu tiên học đại học của tôi đầy phong ba
bão táp. Ban đầu tôi được cấp học bổng
Colombo đi du học Gia Nã Đại và được gửi đi học Anh văn ở hội Việt Mỹ để chuẩn
bị. Trong suốt sáu tháng, buổi sáng tôi
đi học Anh văn, chiều vào Phú Thọ học các lớp chiều, và tối nhờ nó giảng lại
bài rồi học bài đến ba bốn giờ sáng. Ba
ngày trước khi đáng lẽ tôi sẽ lên đường, nha Du học gửi văn thư báo tin học bổng
bị thu hồi; hỏi ra mới biết thời trung học tôi nghịch ngợm phá phách nên ông hiệu
trưởng thù vặt báo cáo tôi dùng học bạ giả.
Thằng Song cười khà khà an ủy tôi,
“Việc chó
gì mà buồn! Mày không đi du học thì ở
nhà với con Quỳnh Châu càng sung sướng đời tuổi trẻ. Tụi mình học kỹ sư điện Phú Thọ thua kém gì
ai, có chăng thua ông cọp cái đuôi!”
Nhưng cái số con rệp vẫn bám theo tôi. Trong kỳ thi lên lớp cuối năm, tôi bị giáo sư
trù, nhất định đuổi học, tôi xin lỗi cách mấy ông cũng không chấp nhận. Tôi tuyệt vọng, thấy mình vào ngõ cụt, và
nghĩ tới chuyện tình nguyện đi lính hay kết liễu đời mình. Thằng Song không cho tôi buông xuôi vì, “Còn
nước còn tát,” nó nói. Nó bắt tôi ngồi
sau chiếc VeloSolex cà tàng và chở đến nhà các giáo sư khác nhờ xin lỗi ông kia
giùm tôi. Có lẽ nhờ nỗ lực này mà tôi được
cho ở lại lớp.
Năm sau, hai thằng bắt đầu học khác lớp, nhưng hàng đêm
vẫn gặp nhau tán dóc và cùng học bài. Cuối
tuần, nếu không phải học thi hay dạy kèm tư gia, chúng tôi đèo nhau trên chiếc
Honda đi giang hồ khắp các tỉnh miền Tây, thăm viếng những địa phương
dân tình thật thà và hiếu khách. Mùa hè
mỗi đứa về nhà mình, nhưng thằng Song thường ghé xuống Tuy Hòa thăm tôi, và tôi
lên Pleiku chơi với nó và Ngự Thanh. Nàng
và bạn tôi đã bồ nhau từ thời học trường trung học Pleiku, và hai đứa
làm đám cưới khi thằng Song về nhà nghỉ Tết năm đệ tứ niên, trước khi ra trường.
* * *
Thằng Song ngồi tù hơn một năm thì được thả. Về Sài gòn bị CTĐLMN đuổi việc, bụng đói đầu
gối phải bò, nó xoay ra làm nghề sửa chữa động cơ điện và máy biến thế tại tư
gia. Dần dần, nó khuếch trương cơ sở và kêu
bạn đi “học tập cải tạo” được “ra trại” (thả về) tới làm chung và chia xẻ miếng
cơm manh áo. Khi công ty đủ lớn, nó phát
triển phương cách chế tạo dây điện từ để cung cấp cho CTĐLMN và các cơ sở kỹ
nghệ, mời bạn về hưu từ CTĐLMN tới làm việc, và lập ban kỹ sư tiếp thị hùng hậu,
giàu kinh nghiệm, và thấu đáo.
Đến năm 2000, thằng Song là một kỹ nghệ gia tăm tiếng,
giàu có, và giao du rộng rãi có bạn làm tới chức “trưởng phòng” (tương đương với
phó tổng giám đốc ngày trước) của CTĐLMN.
Trong lúc đó, ở Hoa kỳ, ngoài nhiệm vụ giám đốc kế hoạch ở Công ty Tiện
ích Montana-Dakota, tôi được Tổ hợp Điện lực Vùng Trung-Lục địa (viết tắt là
MAPP) đề cử làm đại diện trong Tiểu ban Thẩm định Khả năng Đáng Tin
cậy của hệ thống điện Bắc Mỹ (viết tắt là RAS). Tiểu ban gồm đại diện mười vùng điện
lực ở Bắc Mỹ mà MAPP là một, và đại diện hai chính phủ Hoa kỳ và Gia Nã Đại. RAS thẩm định mạng lưới liên kết toàn Bắc
Mỹ, phúc trình khuyết điểm có thể đưa tới các vụ cúp điện rộng lớn,
và đề nghị biện pháp phòng ngừa.
RAS họp hàng tháng ở các thành phố khác
nhau, và tôi trở nên thân thiết với đại diện chính phủ Gia Nã Đại là Douglas. Anh là giám đốc nha Năng lượng thuộc bộ Tài
nguyên Thiên nhiên và cai quản chương trình viện trợ dự án điện lực cho các nước
kém mở mang như Mozambique, Tanzania, và Zambia ở Phi châu. Một hôm đi ăn tối với nhóm RAS, Douglas kể
chuyện đứa con trai út Peter vừa tốt nghiệp đại học, đã được nhận vào trường y
khoa, và muốn nghỉ một thời gian đi du lịch rồi mới trở về đi học. Peter dự định viếng thăm Đông nam Á trước
tiên, Douglas hỏi tôi,
“Anh khuyên cháu
nên làm gì để chuẩn bị cho chuyến đi đó?”
Tôi mừng khấp khởi. Peter có thể là tuy-dô (tiếng Pháp
“tuyau” là đường dây thế lực) lớn để CTĐLMN tiếp xúc và liên lạc với Douglas rồi
từ đó xin viện trợ của Gia Nã Đại – dễ như trở bàn tay. Mỗi dự án điện lực từ vài trăm triệu đến một
tỉ đô la sẽ giúp dân Việt nam bớt khổ phần nào, không lẽ Việt Cộng kiếm cách
ngăn cản? Tôi viết thư cho thằng Song, trình
bày cơ hội hiếm có, và mong nó và các bạn cũ ở CTĐLMN cố gắng thực hiện. Nhận được thư trả lời,
Tao và các bạn mình
hoàn toàn đồng ý với mày. Mày nói với ông
Douglas là tụi tao sẽ khoản đãi và đưa Peter đi chơi khi cậu ấy đến Việt
nam. Tao sẽ cho người dẫn cậu ta viếng cảnh
Sài gòn, Đà Lạt, và Huế. Tụi tao không bỏ
lỡ dịp may này đâu!
Peter sắp xếp viếng thăm Thái Lan và Cam Bốt rồi đến Việt
nam và sau đó đi Trung hoa và Nhật Bản vào tháng Mười. Cậu sinh viên Gia Nã Đại không thể ngờ rằng các
sự biến chính trị quốc tế sẽ gây bao nhiêu phiền nhiễu cho chuyến đi này. Cuối tháng Tư, Hà nội thình lình đem bà Trần
thị Liên người Gia Nã Đại gốc Việt đang bị giam giữ ra hành hình về tội buôn bạch
phiến, mặc dù chính phủ Gia Nã Đại yêu cầu xét lại vì bà Liên một mực kêu oan,
nói bị người ta lừa nhờ mang giúp bạch phiến mà bà không hề hay biết. Chính phủ Gia Nã Đại phản kháng mạnh mẽ và ngưng
chương trình viện trợ kinh tế, liên hệ giữa hai bên rất căng thẳng, và du khách
mang thông hành Gia Nã Đại bị công an Việt Cộng làm khó dễ.
Peter đến Sài gòn nhằm tuần lễ Tổng thống Hoa kỳ Bill
Clinton viếng thăm Việt nam, chuyến công du mở đường cho doanh nhân Hoa kỳ và
thế giới vào đầu tư, giúp mở mang kinh tế và cứu nguy 100 triệu người dân đói
khổ. Chính quyền Việt Cộng chỉ chào mừng
Clinton bằng một tấm biểu ngữ và loan tin trên đài truyền hình và truyền thanh. Nhưng ở Hà nội cũng như Sài gòn, hàng vạn người
dân ùa ra đường chào đón và bắt tay vị tổng thống Mỹ trẻ tuổi bình dị. Hà nội đâm ra hoảng hốt, sợ dân chúng thừa dịp
biểu tình đòi nhân quyền và chống chính phủ, và ra lệnh cho công an ráo riết canh
phòng bọn “phản động.”
Vào khách sạn, Peter gọi điện thoại cho thằng
Song. Đang bị công an theo dõi từng bước
đi và canh chừng trước cửa nhà, bạn tôi nói ngay,
“Chúng
tôi không thể gặp cậu. Cậu phải cẩn thận
và cần khai thực là cậu không hề quen biết chúng tôi.”
“Tại
sao?” Peter ngơ ngác hỏi.
“Bạn tôi ở
bên Mỹ sẽ giải thích cho cha cậu biết sau.
Chúc cậu may mắn!”
Ngay sau đó, công an chìm ập tới “mời” Peter về trụ sở
để “làm việc.” Sau hai ngày đêm bị tra hỏi
gắt gao mà không có gì để cung khai, Peter bị giải ra phi trường đưa ra Hà nội
rồi bị đẩy sang Tàu. Hành trình qua Việt
nam bị rút ngắn, nhưng tính mạng vẫn còn.
Hú hồn!
Trong câu ca dao “Ở đời có bốn chuyện
ngu, Làm mai, lãnh nợ, gác cu, cầm chầu,” có lẽ phải kể thêm chuyện
ngu thứ năm của tôi: Ai đời lại cả tin
dầu sao Việt Cộng cũng còn chút lương tâm nghĩ tới phúc lợi của đồng bào, há đã
quên câu ca dao tân thời,
Mấy đời bánh đúc có xương,
Mấy đời Việt Cộng
mà thương dân lành?
Nguyễn Ngọc Hoa
Ngày 9 tháng Ba, 2022







Đăng nhận xét